hoặc

Đề thi thử THPT Quốc gia năm 2015 môn Ngữ Văn trường THPT Trần Hưng Đạo, Ninh Bình có đáp án kèm theo giúp các bạn làm quen với các dạng bài thi THPT Quốc gia, tự ôn thi tốt nghiệp môn văn, luyện thi đại học khối C, D. Hi vọng tài liệu này giúp các bạn đạt kết quả tốt trong các kì thi sắp tới.

Đề thi thử Quốc gia môn Văn

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NINH BÌNH
TRƯỜNG THPT TRẦN HƯNG ĐẠO

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA
NĂM HỌC: 2014-2015
MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút
(Không kể thời gian giao đề)

Câu 1 (2,0 điểm):

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

(Trích Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr. 39 - 40)

Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau:

  1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản.
  2. Nêu các dạng phép điệp của văn bản và hiệu quả nghệ thuật của chúng?
  3. Nội dung chính của văn bản là gì?

Câu 2 (3,0 điểm):

Ngày 20/3/2015, trên mạng internet lan truyền với tốc độ chóng mặt những hình ảnh, thông tin được công bố trên báo chí Ấn Độ kèm theo lời nhận xét về vụ việc hàng trăm phụ huynh, bạn bè của các thí sinh bất chấp nguy hiểm leo trèo như người nhện lên bức tường cao của trường trung học Vidya Niketan để ném phao thi vào cho các thí sinh tham gia kỳ thi đầu vào lớp 10 toàn quốc, diễn ra ngày 18/3/2015.

Trang vtc.vn còn cho biết: Trước đó vào tháng 10/2014, 2.440 sinh viên Trung Quốc bị phát hiện dùng tai nghe không dây hoặc "cục tẩy điện tử" để nhận đáp án từ ngoài truyền vào dưới dạng mật mã trong kỳ thi quốc gia cấp chứng chỉ cho dược sĩ.

Anh (chị) suy nghĩ gì về các hình thức tiêu cực trong thi cử nói trên? Liên hệ đến các hình thức tiêu cực trong thi cử đã xuất hiện ở Việt Nam và đề xuất giải pháp khắc phục.

Câu 3 (5,0 điểm):

Anh (chị) hãy phân tích và so sánh sự trỗi dậy sức sống ở nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân và đêm cởi trói cho A Phủ được thể hiện qua truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài./.

Đáp án đề thi thử Quốc gia môn Văn

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NINH BÌNH
TRƯỜNG THPT TRẦN HƯNG ĐẠO

HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA
NĂM HỌC: 2014-2015
MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút
(Không kể thời gian giao đề)

Câu 1 (2,0 điểm):

1. Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận (0,5 điểm)

2. (1,0 điểm)

  • Các dạng phép điệp: điệp từ, điệp cú pháp (0,5 điểm)
  • Tác dụng: Nhấn mạnh, tạo giọng điệu đanh thép, hùng hồn cho văn bản khi tố cáo những tội ác của thực dân Pháp (0,5 điểm)

3. Nội dung chính của văn bản: Vạch trần những tội ác về kinh tế của thực dân Pháp đối với nhân dân ta (0,5 điểm)

Câu 2 (3,0 điểm):
1. Yêu cầu về kĩ năng:

Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội: Bố cục rõ ràng, biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thực tế, chọn lọc. Hạn chế mắc các loại lỗi.

2. Yêu cầu về nội dung:

  • Mở bài: Nêu vấn đề cần bàn luận: hiện tượng gian lận thi cử
  • Thân bài:
    • Nêu cách hiểu về gian lận thi cử: Gian lận trong thi cử là hành vi vi phạm quy chế thi của thí sinh. Thí sinh làm mọi cách để đỗ bằng được, không cần thi theo thực chất.
    • Các hình thức gian lận thi cử nói trên ở Ấn Độ, Trung Quốc cho ta thấy nhiều nước trên thế giới chứ không chỉ riêng Việt Nam đang đứng trước thực trạng tiêu cực trong thi cử. Các hình thức gian lận thi cử ngày càng diễn ra phổ biến, dưới nhiều hình thức, và ngày càng tinh vi, hiện đại. Đây là một vấn đề gây nhức nhối dư luận, mặc dù vậy không dễ dàng giải quyết triệt để.
    • Các hình thức gian lận thi cử đã tồn tại ở Việt Nam: trao đổi bài, nhìn bài bạn, quay cóp, mang tài liệu, mang các thiết bị công nghệ cao vào phòng thi, người nhà ném phao cho thí sinh... (Dẫn chứng: Tiêu biểu là vụ gian lận thi cử tại THPT Đồi Ngô – Bắc Giang năm 2012...)
    • Nguyên nhân:
      • Do sự lười biếng của học sinh; do mất kiến thức cơ bản; do học tập trong môi trường thiếu tính kỷ luật.
      • Do khâu tổ chức thi cử không nghiêm túc, giám thị coi thi thiếu tính nghiêm minh, từ đó tạo điều kiện cho học sinh có hành vi gian lận trong khi thi
      • Do xã hội trọng bằng cấp, trọng thành tích
      • Do phụ huynh muốn con có kết quả thi tốt để có tương lai tốt sau này nên nhiều khi đã mua chuộc giám thị, giám khảo...
    • Tác hại:
      • Tạo ra kết quả ảo, thành tích ảo, chất lượng giáo dục đi xuống.
      • Gian lận trong thi cử sẽ làm cho người học không có chí tiến thủ trong học tập, sinh ra sự lười biếng, ỷ lại, thiếu tự tin, đánh mất lòng tự trọng, nhân cách phẩm giá của mình...
      • Người học không có kiến thức cho nên không đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Từ đó sẽ kéo theo nhiều hệ lụy: sự xuống cấp về đạo đức, chất lượng nguồn nhân lực của đất nước bị hạn chế, đất nước kém phát triển, bị tụt hậu.
    • - Giải pháp khắc phục:
      • Cần chấn chỉnh lại các kỳ thi, đề ra quy chế thi chặt chẽ, thắt chặt an ninh. Kỷ luật những giám thi coi thi không nghiêm túc và hủy kết quả bài thi nếu học sinh gian lận trong thi cử.
      • Về phía học sinh, cần ý thức được trung thực là một giá trị làm nên nhân cách. Ngay cả khi phải đối diện với thất bại vẫn phải có ý thức sống cho trung thực. Học sinh cần không ngừng tu dưỡng để có phẩm chất trung thực, rèn ý chí nghị lực để khắc phục bệnh lười biếng và tình trạng gian lận thi cử; đồng thời, phải luôn học tập nghiêm túc, chăm chỉ để sau này có kiến thức phục vụ xã hội.
      • Mỗi người cần kiên quyết đấu tranh với những hành vi gian lận trong thi cử để làm trong sạch môi trường giáo dục
  • Kết bài:
    • Khái quát lại vấn đề
    • Liên hệ bản thân

3. Thang điểm

  • Điểm 3: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, còn một vài lỗi nhỏ
  • Điểm 2: Đáp ứng khoảng 2/3 các yêu cầu trên, còn một vài lỗi nhỏ
  • Điểm 1,5: Đáp ứng khoảng 1/2 các yêu cầu trên, mắc một số lỗi trong diễn đạt
  • Điểm 0,5: Bài làm sơ sài, mắc nhiều lỗi
  • Điểm 0: Không làm được bài hoặc lạc đề hoàn toàn

Câu 3 (5,0 điểm):

I. Yêu cầu về kĩ năng:

Biết cách làm bài văn nghị luận văn học: bố cục rõ ràng, biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng chọn lọc. Hạn chế mắc các loại lỗi.

II. Yêu cầu về nội dung:

- Mở bài:

  • Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật Mị
  • Nhấn mạnh sức sống tiềm tàng mãnh liệt của Mị

- Thân bài:

1. Giới thiệu ngắn gọn:

  • Hoàn cảnh gia đình, phẩm chất của Mị trước khi về làm dâu nhà thống lí (gia đình nghèo, vay tiền thống lí; Mị có nhan sắc, có tài hoa, khao khát tự do, hiếu thảo)
  • Mị bị chà đạp cả về thể xác lẫn tinh thần khi về làm dâu nhà thống lí Pá Tra

2. Phân tích sự trỗi dậy sức sống của Mị

a. Trong đêm tình mùa xuân

  • Nhà văn đã đi sâu vào tận cùng ý thức, vào đáy sâu tiềm thức của nhân vật Mị để khơi bùng lên ánh sáng và hơi ấm của niềm ham sống và khát khao hạnh phúc.
  • Tâm hồn Mị hồi sinh, khát vọng sống tiềm tàng trong Mị bùng lên bởi tác động của khung cảnh gợi cảm của mùa xuân, của hơi rượu và tiếng sáo gọi bạn yêu…
  • Diễn biến tâm trạng và hành động của Mị:
    • Mị uống rượu
    • Mị ngồi nhìn mọi người nhưng lòng Mị đang hướng về ngày trước. Quá khứ đẹp đẽ trở về trong sự ý thức đầy cay đắng về cuộc sống khốn khổ thực tại.
    • Mị muốn có nắm lá ngón để ăn cho chết ngay. Nước mắt Mị ứa ra...
    • Tiếng sáo vẫn lửng lơ ngoài đường. Mị khao khát được đi chơi xuân, được hoà mình vào không gian rộn ràng, tình tứ của cuộc sống ngoài kia
    • Những sôi sục của tâm tư đã biến thành hành động: Mị lấy ống mỡ xắn miếng mỡ bỏ vào đĩa đèn cho sáng, quấn lại tóc, với chiếc váy hoa
  • A Sử phát hiện ra, trói đứng Mị vào cột nhà, quấn tóc Mị lên cột rồi tắt đèn, đi ra, khép cửa. Mị như không biết mình bị trói. Hơi ruợu nồng nàn. Mị mộng du theo tiếng sáo. Mị vùng bước đi nhưng chân tay đau không cựa được. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa.
  • Tô Hoài đã khám phá ra đằng sau tâm hồn câm lặng vẫn còn một tâm hồn khát sống, khát yêu. Nhựa sống vẫn âm thầm chảy trong Mị. Đó là sức sống tiềm tàng của Mị.

b. Trong đêm cứu A Phủ

A Phủ bị trói mấy đêm nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay

  • Bất chợt, Mị bắt gặp dòng nước mắt của A Phủ.
  • Tâm trạng của Mị trong đêm cứu A Phủ: từ vô cảm, dửng dưng đến đồng cảm. Giọt nước mắt của A Phủ đã đánh thức và làm hồi sinh lòng thương người trong Mị, Mị nhớ lại đời mình, nhận ra thực tại độc ác và bất công… Tình thương và lòng căm thù đã giúp Mị có sức mạnh để quyết định cứu người và vùng chạy theo A Phủ. Cắt dây trói cứu A Phủ cũng là Mị tự cắt dây trói vô hình ràng buộc đời mình với kiếp nô lệ, từ giã đêm đông giá lạnh của cuộc đời để đến với một mùa xuân mới ấm áp. Sự gặp gỡ giữa Mị và A Phủ vừa ngẫu nhiên vừa tất yếu. Đó là cuộc gặp gỡ giữa hai con người cùng cảnh ngộ, cùng tiềm tàng sức mạnh tháo cũi, sổ lồng và khát vọng tự do, hạnh phúc…

3. So sánh (sự giống và khác nhau)

a. Giống nhau:

  • Sự trỗi dậy sức sống của Mị ở cả hai lần đều có cơ sở, tiền đề là bản tính mạnh mẽ, yêu tự do, khát khao sống, không dễ chấp nhận số phận.
  • Hai lần sức sống trỗi dậy đều là khi Mị thoát ra khỏi trạng thái vô cảm ngày thường

b. Khác nhau:

  • Yếu tố tác động làm bùng lên sức trỗi dậy ở Mị:
    • Lần thứ nhất, Mị nhận được sự tác động từ các yếu tố ngoại cảnh: khung cảnh mùa xuân gợi cảm, hơi rượu, tiếng sáo.
    • Lần thứ hai Mị chịu tác động bởi dòng nước mắt của A Phủ.
  • Lần thứ nhất sự trỗi dậy của sức sống ở Mị xuất phát từ nỗi thương mình, lần thứ hai xuất phát từ lòng thương người rồi mới đến thương mình.
  • Ở lần trỗi dậy thứ nhất, bản thân Mị chỉ định giải thoát trong chốc lát, Mị muốn đi chơi, và ở lần này, Mị không thể thoát khỏi sợi dây buộc chặt của cường quyền và thần quyền. Còn ở lần thứ hai Mị mạnh mẽ quyết liệt giải thoát mình khỏi sự ràng buộc của cả cường quyền lẫn thần quyền. Với hành động này Mị đã chiến thắng số phận.

4. Đánh giá:

  • Mị là nhân vật chính, là linh hồn của tác phẩm, được khắc hoạ sinh động, có cá tính rõ nét, có chiều sâu nội tâm và sức sống nội tại mãnh liệt. Trong tính cách của nhân vật có hai mặt tưởng chừng đối lập nhưng lại thống nhất: vừa cam chịu an phận vừa tiềm tàng sức mạnh phản kháng và sức sống mãnh liệt. Ở giai đoạn sau, sự trỗi dậy sức sống ở Mị được bộc lộ rõ nét, sâu sắc, quyết liệt, triệt để hơn ở giai đoạn trước.
  • Sự trỗi dậy sức sống của Mị được khắc hoạ rõ nét trong những hoàn cảnh đặc biệt; trong mối quan hệ với các nhân vật khác; qua thủ pháp miêu tả diễn biến tâm lí, tâm trạng; qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc, ngôn ngữ chọn lọc, giọng trần thuật của tác giả nhiều khi nhập vào dòng tâm tư nhân vật để diễn tả những ý nghĩ, tâm trạng và cả những trạng thái mơ hồ của tiềm thức…

- Kết bài:

  • Cuộc đời của nhân vật Mị tiêu biểu cho số phận, thân phận đau khổ của người dân miền núi dưới ách thống trị của bọn thực dân và phong kiến. Sức sống tiềm tàng mãnh liệt của Mị, sự vùng lên tự giải thoát của Mị tiêu biểu cho sức sống tiềm tàng mãnh liệt và sự thức tỉnh về con đường đấu tranh để tự giải phóng của những người lao động miền núi nghèo khổ.
  • Qua sự trỗi dậy sức sống của Mị, ta thấy được chiều sâu tư tưởng nhân đạo của Tô Hoài

III. Thang điểm:

  • Điểm 5: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, còn 1 vài lỗi nhỏ
  • Điểm 4: Đáp ứng khoảng 2/3 các yêu cầu trên, còn 1 vài lỗi nhỏ
  • Điểm 2-3: Đáp ứng khoảng ½ các yêu cầu trên, mắc một số lỗi diễn đạt
  • Điểm 1: Bài sơ sài, mắc nhiều lỗi.
  • Diểm 0: Không làm bài hoặc lạc đề hoàn toàn

Lưu ý: HS có thể có những phát hiện và cách làm sáng tạo. Giáo viên linh hoạt trong việc vận dụng hướng dẫn chấm./.

Bấm nút thanks
sau đó bấm Tải xuống

Download tài liệu - chọn link phù hợp để download